Màng dây rốn, từ 'rác' biến thành 'vàng'... qua bàn tay PGS Phan Toàn Thắng

THU HIẾN
và 1 tác giả khác

Từ nỗi ám ảnh trước những cái chết của bệnh nhân phỏng nặng do không còn da để ghép, PGS Phan Toàn Thắng đã đặt cược sự nghiệp vào màng dây rốn - thứ từng bị coi là "rác" sau mỗi ca sinh.

Màng dây rốn - Ảnh 1.

PGS Phan Toàn Thắng đã đặt cược sự nghiệp vào màng dây rốn - Ảnh: THU HIẾN

Năm 2004, PGS Phan Toàn Thắng trở thành người Việt Nam tiên phong nghiên cứu và phát triển công nghệ phân lập tế bào gốc từ màng dây rốn, màng ối tại Singapore, mở ra hướng đi mới cho y học tái tạo.

Công nghệ này sẽ giúp điều trị nhiều căn bệnh nan y như: ung thư, chống lão hóa, phỏng, đái tháo đường và đã điều trị thành công cho nhiều bệnh nhân mắc bệnh nặng. Ngoài ra công nghệ còn có ứng dụng chăm sóc sắc đẹp và thẩm mỹ.

Trò chuyện với Tuổi Trẻ, PGS Phan Toàn Thắng cho biết: "Sau khi tốt nghiệp Học viện Quân y (Bộ Quốc phòng) năm 1991, tôi công tác tại Bệnh viện Bỏng quốc gia Lê Hữu Trác (hay Viện Bỏng quốc gia). 

Là bác sĩ điều trị trực tiếp cho nhiều bệnh nhân phỏng nặng, tôi đã chứng kiến nhiều người họ gần như không còn cơ hội sống tiếp vì không có da để ghép. Đó không chỉ là nỗi đau thể xác của người bệnh mà còn là sự day dứt ám ảnh của người thầy thuốc.

Đúng năm 1997, tôi may mắn nhận được lời mời từ Bệnh viện Singapore General Hospital (trung tâm điều trị phỏng lớn nhất Đông Nam Á - PV) để quản lý công nghệ nuôi cấy tế bào tại đây. Đầu những năm 2000, khi Singapore chuyển đổi cơ cấu kinh tế sang công nghệ cao, công nghệ sinh học được ưu tiên mạnh mẽ. Tôi tiếp tục được cử sang Mỹ đào tạo về tế bào gốc tại Trường ĐH Stanford University giai đoạn 2002-2004.

Tại đây tôi nghiên cứu về tế bào gốc từ mô mỡ, một hướng mới khi đó, được phát triển tại ĐH University of California, Los Angeles và Stanford. Tuy nhiên tôi nhận thấy nguồn tế bào gốc trưởng thành (tồn tại trong các mô của cơ thể - PV) có nhiều hạn chế như: số lượng ít, chất lượng giảm theo tuổi, chi phí cao và phải can thiệp xâm lấn như hút mỡ hay lấy tủy xương. Bên cạnh đó, dù là công nghệ hiện đại nhưng chi phí quá cao. Mỗi ca điều trị phải có sự tài trợ của Chính phủ hoặc doanh nghiệp lớn.

Năm 2004, khi trở lại Singapore tôi đặt mục tiêu tìm một nguồn tế bào gốc mà không vướng rào cản đạo đức, nguồn tế bào dồi dào, tế bào "không tuổi" và không cần can thiệp xâm lấn, có thể nuôi cấy với chi phí thấp. Và tôi quyết định tập trung vào mô dây rốn".

Từ nỗi ám ảnh phòng phỏng đến bước ngoặt khoa học

Màng dây rốn - Ảnh 2.

PGS Phan Toàn Thắng

* Ông từng ví mình là người "biến rác thành vàng". Có phải đó là cách ông nói về khả năng nhìn ra giá trị khoa học ẩn giấu trong những thứ mà y học từng xem là phế phẩm?

- Trước đó, từ năm 1985 máu dây rốn đã được sử dụng để điều trị ung thư máu. Tuy nhiên phần mô dây rốn bên ngoài lại bị bỏ đi. Mô dây rốn có ba ưu điểm lớn, thứ nhất, đó là "phế thải y học", không đụng chạm đến vấn đề đạo đức. 

Thứ hai, tế bào ở trạng thái "không tuổi" vì được thu nhận lúc sơ sinh nên khả năng tái tạo rất mạnh và thứ ba, có tính dung nạp miễn dịch cao, ít gây thải loại. Ngoài ra số lượng tế bào trong một dây rốn rất lớn, giúp giảm chi phí nuôi cấy.

Sau hơn 20 năm, thế giới dần công nhận ưu thế này. Đặc biệt trong đại dịch COVID-19, nhiều trung tâm y tế từ Brazil, Mỹ, Trung Quốc đến Singapore đã sử dụng tế bào gốc dây rốn trong điều trị biến chứng viêm nặng. Hiện nay tế bào gốc dây rốn trở thành một trụ cột trong y học trường thọ và y học tái tạo.

* Mất bao nhiêu thời gian để một đột phá khoa học được công nhận và thực sự cứu người?

- Phát minh chỉ là bước đầu. Hơn 20 năm qua chúng tôi phát triển dần: từ tái tạo da, xương khớp đến các bệnh phức tạp như suy tim, đái tháo đường, Parkinson… Mỗi bước đều cần dữ liệu khoa học.

Ca thành công đầu tiên tôi nhớ là ở Việt Nam, khoảng năm 2008. Khi đó có chương trình hợp tác khoa học với sự hỗ trợ của Bộ Khoa học - Công nghệ. Một số bệnh nhân phỏng nặng và loét mãn tính được điều trị và lành thương rõ rệt.

Điều tôi trân trọng nhất là thấy công nghệ mình theo đuổi có thể giúp bệnh nhân thực sự. Khoa học không có điểm dừng. Có thể đến một ngày tôi không còn làm nữa nhưng thế hệ sau sẽ tiếp tục. Quan trọng nhất vẫn là quyền lợi của bệnh nhân. Nếu công nghệ mang lại lợi ích thật sự, nó sẽ tồn tại.

Khoa học không sợ phản biện

* Ắt hẳn đã có lúc thất bại, lúc đó ông làm gì?

- Nghiên cứu sinh học là quá trình thử và sai liên tục. Chúng tôi phải thử nghiệm trên động vật nhỏ rồi động vật lớn, tối ưu quy trình, đảm bảo hiệu quả, an toàn và chi phí hợp lý.

Thất bại trong phòng thí nghiệm là điều bình thường. Điều quan trọng là không được nản. Nếu nản, bạn không thể làm khoa học thực nghiệm.

* Trong khoa học không phải phát minh tốt nào cũng được đón nhận. Ông đã từng bị phản biện, nghi ngờ hay thậm chí phủ nhận một cách bất công chưa? Khoảnh khắc đó ông đã làm gì?

- Phát minh của tôi dựa trên tế bào gốc từ dây rốn, không cần dùng phôi. Chính vì vậy, tôi vấp phải sự phản đối từ nhóm theo hướng nghiên cứu tế bào gốc phôi. Bằng sáng chế đầu tiên tại Mỹ mất tới 10 năm (2005-2015) mới được công nhận chỉ vì tranh luận về sự khác biệt giữa mô dây rốn và da sơ sinh.

Nhưng khoa học là vậy, phản biện là chuyện bình thường, phải chứng minh bằng dữ liệu và phương pháp khoa học. Tôi chưa bao giờ nghi ngờ kết quả của mình và tin vào dữ liệu của mình.

Công nghệ nào rồi cũng sẽ gặp phản biện, cạnh tranh, thậm chí bị cản trở. Nhưng nếu nó thực sự mang lại lợi ích cho bệnh nhân, cuối cùng nó sẽ được chấp nhận. Điều quan trọng nhất vẫn là quyền lợi của người bệnh. Khi họ được điều trị tốt hơn, đó là câu trả lời rõ ràng nhất cho mọi tranh luận.

Lịch sử khoa học có nhiều trường hợp như vậy.

Phải là sản phẩm có ích cho xã hội

* Trong lĩnh vực tế bào gốc, ranh giới giữa khoa học nghiêm túc và quảng bá quá đà đôi khi rất mong manh. Theo ông, đâu là dấu hiệu nguy hiểm nhất cho thấy một công nghệ tế bào gốc đang bị thương mại hóa trước khi đủ bằng chứng khoa học?

- Không chỉ tế bào gốc. Công nghệ gene, AI, blockchain… đều từng bị thổi phồng và lạm dụng.

Ví dụ, công nghệ mRNA từng bị hoài nghi nhưng khi được ứng dụng đúng cách, nó tạo ra bước ngoặt toàn cầu. Ngược lại, nếu chỉ quảng bá sai chỉ định, hiệu quả sẽ hạn chế. Người tiêu dùng cần tỉnh táo, tìm đến nguồn đáng tin cậy. Vai trò của chúng tôi là tổ chức diễn đàn khoa học, giúp bác sĩ và bệnh nhân hiểu đúng bản chất công nghệ.

* Với các nhà khoa học trẻ Việt Nam, nhiều người đứng trước lựa chọn theo đuổi nghiên cứu hàn lâm để có công bố hay đi theo hướng ứng dụng để tạo ra sản phẩm. Ông khuyên họ điều gì?

- Công bố khoa học vẫn rất quan trọng. Nhưng nếu có phát minh mang tính sáng tạo cao, phải đăng ký bảo hộ trước khi công bố. Vấn đề hiện nay là quá chú trọng chỉ số mà quên mục tiêu cuối cùng là sản phẩm hữu ích cho xã hội. Khoa học phải vị nhân sinh.

Nhiều nhà khoa học nghĩ rằng càng phức tạp càng "thông minh" nhưng sản phẩm ứng dụng thì phải đơn giản. Nếu quá phức tạp, chi phí cao, quy trình rườm rà, bệnh nhân khó tiếp cận. Nghiên cứu có thể phức tạp nhưng sản phẩm phải đơn giản, chi phí hợp lý thì mới thành công.

Khoa học phải vì con người. Công bố là cần nhưng sản phẩm ứng dụng được mới là minh chứng không thể giả tạo.

Làm khoa học thực nghiệm thì không được phép nản. Thách thức luôn tồn tại về kỹ thuật, tài chính, cạnh tranh thị trường. Nhưng điều quan trọng nhất là quyền lợi của bệnh nhân. Nếu công nghệ mang lại lợi ích thật sự, nó sẽ tồn tại. Có thể đến một ngày tôi không còn tiếp tục nữa nhưng thế hệ sau sẽ tiếp bước và phát triển xa hơn.

Đôi nét về PGS Phan Toàn Thắng:

Tốt nghiệp Học viện Quân y năm 1991 và có thời gian công tác tại Viện Bỏng quốc gia.

Từng nghiên cứu về tế bào gốc tại ĐH Oxford (Anh) và ĐH Stanford (Mỹ).

Hiện là phó giáo sư nghiên cứu khoa học - Bộ môn ngoại ĐH Y khoa Yong Loo Lin, ĐH Quốc gia Singapore.

Tiến sĩ chuyên ngành y học tái tạo ĐH Quốc gia Singapore.

Ông là nhà khoa học Việt Nam tiên phong sở hữu bằng độc quyền sáng chế về công nghệ tách chiết tế bào gốc từ màng dây cuống rốn, do Văn phòng Sáng chế và Nhãn hiệu Mỹ cấp. Ông hiện sở hữu hơn 80 bằng sáng chế được cấp và công nhận tại nhiều quốc gia phát triển trên thế giới.

Người 'biến rác thành vàng' trong phòng thí nghiệm - Ảnh 3.Những cuộc đời được 'tái sinh' nhờ ghép phổi

'Tôi thấy sự kỳ diệu của y học như một sự tái sinh mới. Ngày bước vào phòng mổ thực hiện ca phẫu thuật ghép phổi là 31-12-2025, khi tỉnh lại đã là sáng 1-1-2026, giống như một khởi đầu mới cho cuộc đời và tương lai'.

Trở thành người đầu tiên tặng sao cho bài viết 0 0 0
Bình luận (0)
thông tin tài khoản
Được quan tâm nhất Mới nhất Tặng sao cho thành viên

    Tuổi Trẻ Online Newsletters

    Đăng ký ngay để nhận gói tin tức mới

    Tuổi Trẻ Online sẽ gởi đến bạn những tin tức nổi bật nhất